Quan hệ pháp luật là gì? Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật là Quan hệ xã hội được xác lập, tồn tại, phát triển hay chấm dứt trên cơ sở quy định của các quy phạm pháp luật.

Quan hệ pháp luật là gì?

Quan hệ pháp luật được hiểu theo nghĩa chung nhất là các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, trong đó các bên tham gia quan hệ pháp luật có các quyền và nghĩa vụ pháp lý được nhà nước đảm bảo.

Không phải quan hệ xã hội nào cũng là quan hệ pháp luật, chỉ những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thông qua các quy phạm pháp luật mới tạo thành quan hệ pháp luật.

Khi đó các bên trong quan hệ pháp luật đó sẽ trở thành các bên chủ thể chịu sự tác động và chi phối bởi các quy định của pháp luật liên quan.

Quan hệ pháp luật là gì? Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật mang các đặc điểm sau đây:

– Quan hệ pháp luật được phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật. Trong đó, quy phạm pháp luật là sự dự liệu tình huống nảy sinh quan hệ pháp luật, xác định được chủ thể tham gia, quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý.

– Quan hệ pháp luật mang tính ý chí, đây là ý chí của Nhà nước sau đó mới là ý chí của các bên tham gia vào quan hệ đó.

– Quan hệ pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực hiện, thậm chí là bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành.

– Khi tham gia quan hệ pháp luật, các bên bị ràng buộc bằng quyền chủ thể và nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

– Quan hệ pháp luật còn mang tính cụ về chủ thể tham gia là cá nhân, tổ chức hay cơ quan nhà nước cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.

Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật

Các yếu tố cầu thành quan hệ pháp luật gồm có chủ thể của quan hệ pháp luật, khách thể của quan hệ pháp luật và nội dung của quan hệ pháp luật, cụ thể như sau:

(1) Chủ thể quan hệ pháp luật

Chủ thể trong quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức phải có năng pháp luật, năng lực hành vi phù hợp phù hợp để tham gia vào các quan hệ đó và thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ pháp lý theo quy định. Trong đó chủ thể là cá nhân và tổ chức khác nhau, cụ thể:

– Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng để cá nhân đó có quyền và nghĩa vụ dân sự. Còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng mà cá nhân đó bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.

– Chủ thể quan hệ pháp luật là tổ chức: Đối với chủ thể này, năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi sẽ xuất hiện đồng thời khi tổ chức đó thành lập theo quy định của pháp luật và chấm dứt tư cách pháp lý khi bị phá sản, giải thể.

(2) Khách thể quan thể quan hệ pháp luật

– Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể mong muốn đạt được đó là lợi ích về vật chất hoặc tinh thần, khi tham gia vào quan hệ pháp luật.

– Khách thể trong quan hệ pháp mà các bên hướng đến có thể là tài sản vật chất, lợi ích phi vật chất hay hành vi xử sự của con người.

(3) Nội dung quan hệ pháp luật

Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể quyền và nghĩa vụ pháp của các chủ thể tham giam trong quan hệ đó. Trong đó:

– Quyền của chủ thể tham gia: Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua việc thực hiện các hành vi trong khuôn khổ pháp luật, yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm chế thực hiện hành vi nhất định.

– Nghĩa vụ của chủ thể tham gia: Chủ thể tham gia phải sử xự theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Reply